Input phụ, hiệu ứng trở lại (Auxiliary Input, Effect Return)
Các điều khoản aux. loop và effect loop, như đã đề cập trước đây, nói về tuyến đường tín hiệu liên quan đến cả hai, send lẫn return. Tín hiệu return, có nhiều dạng điều chỉnh, sau đó sẽ có sẵn để mix lại theo ý muốn.
Lẽ ra, trong việc kiểm soát tín hiệu return từ các thiết bị effect, nên sử dụng một input channel tiêu chuẩn, chỉ vì nó kiểm soát các tín hiệu trở lại nhiều hơn. Khi có quá nhiều input channel bận bịu cho những đường tín hiệu đến từ sân khấu, auxiliary được sử dụng để thay thế. Hầu hết mixer không ưu tiên việc thiết kế thêm nhiều input, trong nhiều trường hợp chỉ dùng một pot xoay để kiểm soát. Điều này đôi khi có thể đưa người vận hành vào thế bất lợi trong việc kiểm soát tín hiệu effect return, vì sẽ không thể kiểm soát EQ của tín hiệu return, và cũng vì pot xoay trên phần master nói chung là sử dụng kém thuận lợi hơn fader tuyến tính của channel input tiêu chuẩn.
Hình 7.3: Chức năng Key input channel, cần được kiểm tra lại trước khi bắt đầu biểu diễn hay sự kiện.
(A) Switch lựa chọn Mic / line và on / off channel (nếu có). Trên mixer không có switch on/off, switch lựa chọn mic/line thường được sử dụng để chuyển đổi một channel in hay out khi cần thiết. Như trường hợp bật hay tắt micro không dây, hay bị thay đổi bởi người khác trên sân khấu. Rõ ràng cần chú ý đến trạng thái của switch.
(B) Nguồn Phantom, Input pad và gain. Hình trên bên trái, switch phantom power (trong trường hợp này có tên 48VDC) sẽ không gây ra bất kỳ thiệt hại nào cho một micro dynamic tiêu chuẩn. Nhưng, bất cứ khi nào switch này bật, đôi khi sẽ nghe qua hệ thống một tiếng pop lớn nếu có dây micro cắm vào sau khi hệ thống đã power on. Rõ ràng, nếu sử dụng remotely powered direct box hay micro, cần phải ở đúng tư thế này. Switch pad bổ sung đôi khi là một vấn đề. Nếu nó tham gia trong quy trình kiểm tra, hay lúc bức thiết gặp phải một tín hiệu cao bất ngờ trong một sự kiện, nó nên tham gia trong lúc tạm lắng trong sự kiện. Trong khi đó, có thể vặn ngược gain lại thấp nhất thay vì sử dụng fader, trừ khi trong trường hợp khẩn cấp hay bạn đang nghe tín hiệu bị méo, kết quả của tín hiệu quá mức. Khi ngắt switch pad, quay núm input gain trở lại một chút trước khi làm như vậy, để tránh tín hiệu bị quá mạnh gây ra khó chịu. Sau đó, nếu cần, đem gain hay fader trở lại dần dần cho đến khi tìm thấy mức độ thích hợp.
(C) Lựa chọn Aux pre-fader hay post-fader, nếu có. Khi kiểm tra monitor bằng mixer FOH, pad này sẽ ở vị trí pre.
(D) Assign (gán) Pan / submaster, nếu có. Quá rõ, nhu cầu này cần kiểm tra lại để bảo đảm mỗi tín hiệu được gửi đi qua bus phù hợp. Pan trái để sang submasters số lẻ; Pan phải để sang submasters số chẵn.
(E) Khi sử dụng bất kỳ PFL / Solo nào để theo dõi mức độ của channel trong meter chính, cần thực hiện kỹ lưỡng để chỉ có một switch PFL tham gia, sẽ có giải thích khi kết hợp cùng với các channel khác. (Dĩ nhiên, nếu sử dụng head phone, có thể nhận ra sai sót. Nhưng ngay cả có head phone, đôi khi có đủ cross-pickup (thu chồng chéo) giữa micro trong buổi biểu diễn live, có thể có sai sót như vậy).
(F) Bắt đầu kiểm tra âm thanh với faders và/hay input gain tại hay gần thiết lập (setting) thấp nhất của nó, rồi dần dần đưa lên đến một thiết lập trung bình thoải mái. Vị trí trung bình tối ưu cho faders thay đổi tùy theo từng mixer. thường nhất là nó là khoảng 3 / 4 khoảng chạy, cho phép đủ không gian để boost cho vocal chính/nhạc cụ hay để bù đắp cho mức tín hiệu khác nhau. Hầu hết các mixer sẽ có một số loại đường phân chia cho các vị trí trung bình được đề nghị tối ưu, nhưng không có quy tắc bất di bất dịch. Cuối cùng, dĩ nhiên, thực hiện những gì cần phải làm để hoàn thành bất kỳ công việc cụ thể nào.
Cuối cùng nhưng không kém quan trọng, trước khi bắt đầu kiểm tra âm thanh, mọi người nói chung là thích cài đặt tất cả cần gạt control EQ (không minh họa ở đây) ở vị trí flat của nó. Tất nhiên, khi bắt đầu sự kiện thật tế, hãy kiểm tra kỹ lưỡng để chắc chắn không bị sót lại bất cứ thiết lập nào trong quy trình kiểm tra.